Đặng Đình Mạnh
Cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ ngày 3 tháng 11 năm 2026 tại Hoa Kỳ đã đem lại một kết quả đáng chú ý, theo đó, đảng Dân Chủ giành quyền kiểm soát cả Thượng viện lẫn Hạ viện, sau khi Đảng Cộng Hòa của Tổng thống Donald Trump từng nắm đa số tại cả hai viện lập pháp này.
Đây không đơn thuần là chuyện một đảng thắng, một đảng thua trong cuộc bầu cử. Đằng sau những lá phiếu ấy là sự phản ứng của cử tri Hoa Kỳ trước hai năm điều hành đất nước của chính quyền Trump. Những vấn đề như giá sinh hoạt leo thang, lạm phát, chi phí nhiên liệu, cuộc chiến với Iran kéo dài và những tranh cãi chung quanh chính sách nhập cư, hoặc có thể bao gồm vấn đề hành pháp chuyên quyền… đã trở thành những mối quan tâm lớn của cử tri.
Cử tri có quyền đánh giá rằng những lựa chọn chính trị của họ trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2024 đã không đem lại kết quả như mong đợi. Và họ đã sử dụng lá phiếu để sửa sai, điều chỉnh lại hệ thống chính trị.
Đó chính là một trong những giá trị căn bản, vô giá của bầu cử tự do.

Trong một nền dân chủ có cạnh tranh chính trị thực chất, người dân không phải chờ đến khi một chính quyền kết thúc nhiệm kỳ mới có thể thể hiện sự bất tín nhiệm. Cứ hai năm một lần, thông qua bầu cử Quốc hội, cử tri Mỹ có cơ hội đánh giá lại những người đang nắm quyền. Họ có thể tiếp tục trao đa số cho đảng cầm quyền, hoặc chuyển quyền kiểm soát Quốc hội sang tay đảng đối lập.
Một chính phủ có thể tiếp tục tại vị, nhưng không có nghĩa là họ được quyền mặc nhiên xem sự ủng hộ của dân chúng là vô thời hạn.
Cơ chế sửa sai, điều chỉnh định kỳ ấy tạo ra một sức ép thường trực đối với người cầm quyền về trách nhiệm giải trình, chịu sự giám sát và phải đối diện với hậu quả chính trị nếu những quyết định của mình đi ngược lại với nguyện vọng, lợi ích của cử tri.
Nhìn về Việt Nam, câu chuyện lại hoàn toàn khác.
Tại Hoa Kỳ, người dân có thể tự sửa sai, điều chỉnh, thay đổi tương quan quyền lực giữa các đảng bằng lá phiếu thông qua cuộc bầu cử tự do. Còn tại Việt Nam, quyền lực chính trị được đặt dưới sự lãnh đạo độc quyền của đảng Cộng Sản. Trong đó, đảng Cộng Sản đặt để Điều 4 Hiến pháp tự xác định mình là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Vì vậy, sự thay đổi nhân sự lãnh đạo cao nhất chủ yếu diễn ra trong các quy trình tổ chức và quyết định nội bộ của Đảng như các kỳ Đại hội đảng, chứ không thông qua sự cạnh tranh bằng một cuộc bầu cử tự do giữa các lực lượng chính trị để người dân có cơ hội lựa chọn, sửa sai, điều chỉnh.

Ngay cả bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân, tuy được tổ chức trên danh nghĩa phổ thông đầu phiếu, cũng không tạo ra một môi trường cạnh tranh chính trị bình đẳng đúng nghĩa và thực chất.
Luật quy định mọi công dân có quyền tự ứng cử theo quy định pháp luật, nhưng để có tên trong danh sách chính thức, ứng cử viên phải đi qua quy trình hiệp thương, lấy ý kiến cử tri và lựa chọn nhân sự do hệ thống Mặt trận Tổ quốc tổ chức. Trong một hệ thống mà Đảng Cộng Sản giữ vai trò lãnh đạo toàn diện, quy trình ấy đặt ra chỉ để “đầu tố”, loại bỏ những người không “tương thích” với đảng Cộng Sản, cho dù họ có thật sự là người yêu nước, có tâm, có tài như thế nào đi nữa.
Vấn đề không chỉ nằm ở khâu lựa chọn ứng cử viên. Nó còn nằm ở vai trò thực chất của cơ quan dân cử sau khi được thành lập.
Hiến pháp trao cho Quốc hội vị trí là cơ quan quyền lực của nhân dân, và chức năng lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao. Đại biểu Quốc hội cũng có quyền kiến nghị về luật và dự án luật. Nhưng quyền hạn ghi trên văn bản pháp luật chỉ có ý nghĩa khi được thực hiện bằng một mức độ độc lập nhất định. Nếu các quyết sách lớn đã được định hình chỉ trong nội bộ Đảng, nếu đại biểu không có khả năng chất vấn đến cùng, phản đối hoặc buộc cơ quan hành pháp chịu trách nhiệm, thì vai trò đại diện cho ý chí nhân dân rất dễ trở thành hình thức và thật sự thì Quốc hội đã trở thành hình thức suốt bao nhiêu thập niên qua.
Đó là điều mà hoạt động chính trị Việt Nam không có, nói khác, một cơ chế sửa sai chính trị của nhân dân đã bị đảng Cộng Sản tước đoạt hoàn toàn.
Khi người dân không thể dùng lá phiếu để thực hiện nguyện vọng, lợi ích của mình bằng cách thay đổi lực lượng cầm quyền; Khi những người có tài, có đức phải đứng ngoài khuôn khổ đã được sắp đặt, không có cơ hội được thi thố tài năng để cống hiến; Khi cơ quan dân cử không đủ độc lập để kiểm soát quyền lực, thì những sai lầm chính sách rất khó bị ngăn chặn từ sớm.
Người dân có thể bất bình, có thể kiến nghị, thậm chí có thể phản đối, nhưng sự bất bình ấy không hề có cơ chế để chuyển hóa thành một thay đổi chính trị có tính quyết định.
Một đất nước không thể trông chờ vào sự sáng suốt của một nhóm người tự ban cho mình quyền lãnh đạo vô thời hạn để tránh sai lầm. Bởi không có cá nhân hay tổ chức nào luôn luôn đúng. Điều quan trọng hơn là phải có một cơ chế buộc người cầm quyền nhìn nhận sai lầm và chịu trách nhiệm về những gì họ đã làm.
Cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ cho thấy một chính quyền có thể mất quyền kiểm soát Quốc hội chỉ sau hai năm, nếu cử tri không còn tín nhiệm. Đó không phải dấu hiệu của sự bất ổn, mà chính là một phương thức kiểm soát quyền lực bằng lá phiếu.
Còn ở Việt Nam, khi quyền lựa chọn thực chất và khả năng thay đổi người cầm quyền vẫn nằm ngoài tầm tay của người dân, thì ai? Thực chất chẳng ai có đủ thẩm quyền buộc những người lãnh đạo phải sửa sai cả?
Đó mới là điều rủi ro lớn nhất của đất nước. Bởi một nền chính trị không có cơ chế sửa sai hữu hiệu thì sớm muộn cũng phải trả giá cho những sai lầm mà chính nó không cho phép người dân cơ hội tham gia sửa chữa.
Sự tụt hậu của đất nước ngày nay về mọi phương diện chính là hậu quả của việc Cộng Sản tước đoạt cơ chế sửa sai chính trị mà các quốc gia văn minh đang sở hữu và vận hành chúng.
Hoa Thịnh Đốn, ngày 06/11/2026
——-///——-
* Nguồn hình minh họa về bầu cử tại Hoa Kỳ và Việt Nam từ internet
