Đêm qua thức khuya dọn văn phòng để chuẩn bị cho một chuyến đi dài thì tình cờ lại thấy tấm thiếp này của bao năm trước từ Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại (1933-2022), kèm lời chúc thật “nặng” và tấm hình chụp ông nơi văn phòng làm việc. Những người biết về ông thì chắc sẽ nhớ ông là cháu nội đích tôn của nhà văn Hồ Biểu Chánh; có người biết ông qua lần xuất hiện trên Paris By Night; người mê sách sử có lẽ biết ông qua quyển hồi ký Can Trường Trong Chiến Bại; nhưng trong lịch sử Việt Nam, có lẽ tên tuổi ông gắn liền nhiều nhất với ngày 19 tháng 1 năm 1974 — khi, trong vai trò Tư lệnh Hải quân Vùng I Duyên Hải, ông ra lệnh cho các chiến hạm Hải quân Việt Nam Cộng Hòa khai hỏa chống lại Hải quân Trung Quốc tại Hoàng Sa để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo này.
Nhìn lại lịch sử, có lẽ điều làm vai trò của PĐĐ Hồ Văn Kỳ Thoại trở nên đặc biệt không chỉ nằm ở một mệnh lệnh khai hỏa, mà nằm ở sự thực rằng ông và những người dưới quyền đã đưa ra quyết định ấy trong một hoàn cảnh mà họ hiểu rất rõ tương quan lực lượng bất lợi, biết rằng sẽ khó có sự can thiệp của Hoa Kỳ, và cũng biết rằng cái giá phải trả có thể là sinh mạng của chính thủy thủ đoàn của mình. Trong hồi ký, ông kể lại sự lưỡng lự, nặng nề và cô độc của một người chỉ huy khi phải quyết định giữa rút lui hay nổ súng — giữa việc tránh tổn thất trước mắt và việc bỏ lại chủ quyền quốc gia không một phản ứng. Và rồi ông đã chọn chịu trách nhiệm lịch sử về phía mình.
Có lẽ vì vậy mà dù sau này có bao nhiêu tranh cãi chính trị, bao nhiêu cách diễn giải khác nhau về chiến tranh Việt Nam, trận Hải chiến Hoàng Sa vẫn còn đó như một trong những khoảnh khắc hiếm hoi mà lịch sử buộc người ta phải nhìn lại với sự công bằng hơn. Bởi suy cho cùng, những người như PĐĐ Hồ Văn Kỳ Thoại, Hà Văn Ngạc, Ngụy Văn Thà và các thủy thủ năm ấy đã chiến đấu không phải cho một khái niệm trừu tượng, mà cho điều họ tin là lãnh thổ và danh dự của Việt Nam. Có thể người ta có những quan điểm khác nhau về chế độ mà họ phụng sự, nhưng ngày nay càng khó phủ nhận rằng họ đã thực sự chiến đấu và hy sinh trong một trận đánh mà bản thân họ tin là để bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ Việt Nam trước sự cưỡng chiếm bằng vũ lực từ Trung Quốc.
Và có lẽ điều đáng suy nghĩ hơn nữa là, sau tất cả những biến động lịch sử, những người như ông lại không để lại cho thế hệ sau những lời cay đắng. Trong tấm thiếp cũ kỹ này, điều ông chúc tôi không phải là danh vọng hay thành công cho riêng mình, mà là: “đặc biệt Alex ‘công thành danh toại’ để xây dựng một thế hệ mới có tương lai hơn.” Thú thật, đọc lại câu ấy vẫn thấy “nặng” như ngày nào. Tôi nào có khả năng gánh những điều lớn lao như vậy. Nhưng điều làm tôi cảm phục không phải là kỳ vọng ông đặt nơi tôi, mà là sự rộng lượng của một người đã đi qua mất mát, chiến bại, lưu vong và cả sự im lặng của lịch sử, nhưng vẫn mong một thế hệ sau có tương lai tốt đẹp hơn thế hệ của ông.
Tình cờ và cũng thật ngạc nhiên khi nghĩ rằng tấm thiếp này đã theo tôi qua bao năm và bao nhiêu nơi như vậy. Có lẽ vì đâu đó, tôi biết nó không chỉ là một tấm thiếp chúc lành, mà là một mảnh ký ức của một thế hệ từng tin rằng lịch sử rồi sẽ có ngày nhìn họ công bằng hơn.
Có thể từ xa ông nhìn tôi mà thất vọng. Nhưng nếu có thể làm hay mong điều gì, tôi vẫn mong mình có thể tiếp tục nhắc đến những câu chuyện, những con người và những phần lịch sử đã từng bị im lặng hay đẩy ra bên lề, để rồi một ngày nào đó lịch sử Việt Nam sẽ ghi lại đúng hơn vai trò của những người như Hồ Văn Kỳ Thoại — không phải để khơi lại chia rẽ, mà để nhìn nhận rằng lịch sử Việt Nam luôn phức tạp hơn những gì người ta từng viết trong sách giáo khoa, và rằng phía sau mọi cuộc chiến luôn có những con người đã mang theo niềm tin, trách nhiệm và cả sự day dứt của riêng mình cho đến cuối đời.