Thứ Bảy, Tháng 1 3, 2026
HomeCHỐNG THAM NHŨNGMột vụ án có dấu hiệu đặc biệt oan

Một vụ án có dấu hiệu đặc biệt oan

Vụ án có dấu hiệu làm oan đối với ông Nguyễn Hồng Khanh, nguyên Bí thư Thị uỷ Bến Cát, tỉnh Bình Dương (cũ) dẫn đến dấu hiệu làm oan cho cả 02 cán bộ BIDV đã sang ngày xét xử thứ ba tại TAND Khu vực 18 – Tp. Hồ Chí Minh nhưng vẫn chưa sang phần đối đáp. Đây là vụ án có dấu hiệu đặc biệt oan.
Tại phiên toà, BIDV xác định các bị cáo xử lý tài sản bảo đảm thu nợ ngoại bảng là thực hiện công việc được giao, không thiệt hại, không yêu cầu bồi thường thiệt hại, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố 02 bị cáo BIDV không phạm tội.
Ngân hàng nhà nước Việt Nam – chi nhánh tỉnh Bình Dương có bản kết luận giám định số 252/KLGĐ- BDU3 ngày 20/02/2024, khẳng định: “Quy định nội bộ của Ngân hàng BIDV không thuộc quy chuẩn chuyên môn được áp dụng cho hoạt động giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước. Do đó, Tổ Giám định của Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Bình Dương không thực hiện giám định đối với nội dung này”, đồng thời, cũng kết luận: “Nội dung yêu cầu giám định giám định xác định thiệt hại vượt quá phạm vi chuyên môn, khả năng nghiệp vụ của người giám định tư pháp của Ngân hàng Nhà nước…Do đó, Tổ giám định của Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Bình Dương không thực hiện giám định”. Như vậy, hành vi và hậu quả làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự các bị cáo BIDV về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” tại Điều 356 BLHS không giám định được.
Trong một diễn biến khác, có tài liệu trong hồ sơ giám định có dấu hiệu lập “khống”, “giả mạo” làm căn cứ để Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng của UBND tỉnh Bình Dương ban hành kết luận về giá đất để xác định thiệt hại trong vụ án.
Theo ông Nguyễn Hồng Khanh công khai trình bầy tại phiên toà việc xảy ra vụ án này là do “âm mưu chính trị” hại ông Khanh. Tại phiên toà, các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, người liên quan đều sẽ đề nghị Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan điều tra VKSND tối cao khởi tố vụ án về xâm phạm hoạt động tư pháp.
Vụ án được khởi tố bắt đầu từ một đơn tố cáo được người tố cáo ném vào phòng bảo vệ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương gửi cho Giám đốc Công an tỉnh Bình Dương. Tuy nhiên, hồ sơ vụ án thể hiện vào cùng NGÀY 16/10/2016, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tinh Bình Dương và Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đồng loạt ban hành Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố đối với Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra (được ký bởi ông Trần Văn Chính – Đại tá, chức vụ: Thủ trưởng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Dương) và Quyết định phân công kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố (được ký bởi ông Mai Văn Dũng, Chức vụ: Viện trưởng VKSND tỉnh Bình Dương), nhưng đến ngày 18/10/2016 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Dương mới có thông báo về việc tiếp nhận giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố (được ký bởi ông Nguyễn Văn Thắng, Đại tá, chức vụ: Phó thủ trưởng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Dương). Tại Thông báo này, Cơ quan điều tra cũng mới thông báo cho VKSND tỉnh Bình Dương và người tố giác biết việc tiếp nhận Đơn tố cáo. Không hiểu trước đó 02 ngày cơ quan điều tra và vks chưa tiếp nhận đơn tố cáo thì căn cứ vào đâu để phân công “rất hoành tráng” đối với Phó thủ trưởng Cơ quan CSĐT tiến hành giải quyết đơn tố cáo và phân công 01 Phó Viện trưởng, 01 kiểm sát viên trung cấp và 01 chuyên viên của VKSND tỉnh Bình Dương, tiến hành kiểm sát việc giải quyết tố giác về tội phạm theo đơn tố cáo. Hồ sơ vụ án không có tài liệu, chứng cứ thể hiện ngày tiếp nhận đơn tố cáo ngày là 16/10/2016.
Đây là một KỲ ÁN VÀ DỊ ÁN. Sau phiên toà này, trên cơ sở thu thập tài liệu, chứng cứ của ông Nguyễn Hồng Khanh cung cấp, tôi sẽ đăng công khai quan điểm bào chữa của mình tại phiên toà, những luận điểm đối đáp với đại diện VKSND Khu vực 18 – TP Hồ Chí Minh và sự thật vụ án để góp thêm một viên gạch xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân!
Mặc dù đã nhiều năm tham gia tố tụng trong các vụ án, nhưng đến lúc này, ở vị trí của một người hành nghề luật, tôi có cảm giác kinh hãi, người ta vì mưu cầu lợi ích chính trị, triệt hạ nhau, tranh đoạt quyền lực, ghế ngồi mà dã tâm cho nhau vào tù? Trong một xã hội dân sự, một nhà nước pháp quyền, một chế độ dân chủ, tuyệt đối không thể để tồn tại những vụ việc vô nhân tính này!
————

Dựa trên phần tường thuật bạn đưa, đây là một vụ án có rủi ro oan sai rất cao vì có dấu hiệu “đứt mạch” ở cả (1) cấu thành tội phạm lẫn (2) chứng cứ – tố tụng. Tôi phân tích theo các lớp sau (đúng logic xét xử hình sự):

1) “Điểm gãy” lớn nhất: thiệt hại và quan hệ nhân quả chưa đứng vững

Bạn nêu 2 dữ kiện then chốt:

  • BIDV xác định: xử lý tài sản bảo đảm/thu nợ ngoại bảng là thực hiện nhiệm vụ, không thiệt hại, không yêu cầu bồi thường, và đề nghị tuyên 2 cán bộ BIDV không phạm tội.

  • NHNN Chi nhánh Bình Dương có KLGĐ 252/KLGĐ-BDU3 (20/02/2024) nói rõ:

    (i) Quy định nội bộ BIDV không phải “quy chuẩn chuyên môn” để giám định tư pháp;

    (ii) yêu cầu “xác định thiệt hại” vượt phạm vi/khả năng giám định nên không thực hiện giám định.

Trong tội Điều 356 BLHS (“lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”), thực tiễn xét xử thường bám chặt vào 3 trụ:

hành vi trái công vụ + động cơ vụ lợi/động cơ khác + hậu quả/thiệt hại và quan hệ nhân quả.

Nếu thiệt hại không được chứng minh bằng giám định/định giá đáng tin, hoặc ngân hàng (bị hại/đơn vị liên quan trực tiếp) khẳng định không thiệt hại, thì mạch “hậu quả” và “nhân quả” bị lung lay nghiêm trọng. Khi đó, truy tố rất dễ rơi vào tình trạng: “định tội từ cảm nhận” thay vì từ chứng cứ.

2) Vấn đề giám định – định giá: nguy cơ “xây án” bằng một nền móng yếu

Bạn nói có tài liệu trong hồ sơ giám định có dấu hiệu “lập khống/giả mạo” làm căn cứ để Hội đồng định giá của UBND tỉnh Bình Dương ra kết luận giá đất xác định thiệt hại.

Nếu đúng, đây là “điểm tử” của vụ án, bởi vì:

  • Kết luận định giá/giám định thường là xương sống để quy ra “thiệt hại” (con số) → từ đó mới “đóng khung” tội danh, khung hình phạt.

  • Nếu nền móng là tài liệu bất hợp pháp/khống/giả → toàn bộ suy luận “thiệt hại” có thể sụp theo hiệu ứng domino.

Trong tranh tụng, điểm này cần bóc thành 3 câu hỏi kỹ thuật:

  1. Căn cứ dữ liệu dùng để định giá là gì? (hợp đồng/biên bản/đấu giá/giao dịch so sánh/khung tham chiếu)

  2. Tính hợp pháp của dữ liệu: có nguồn gốc, ký số/ký tươi, đường đi tài liệu, ai lập – ai giao – ai nhận?

  3. Phương pháp định giá có nhất quán và có thể kiểm chứng độc lập không?

Chỉ cần một trong 3 mắt xích “đứt”, kết luận thiệt hại sẽ bị đặt dấu hỏi lớn.

3) Dấu hiệu tố tụng bất thường: “phân công hoành tráng” trước khi… tiếp nhận đơn?

Bạn nêu mâu thuẫn thời gian cực mạnh:

  • 16/10/2016: CQĐT và VKS đồng loạt ban hành quyết định phân công giải quyết/kiểm sát tin báo.

  • 18/10/2016: CQĐT mới ra thông báo tiếp nhận tố giác/tin báo, đồng thời mới thông báo cho VKS và người tố giác.

Nếu hồ sơ không có chứng cứ tiếp nhận ngày 16/10/2016, thì câu hỏi pháp lý sẽ là:

  • Căn cứ nào để ban hành quyết định phân công trước khi có dấu vết tố tụng hợp lệ về việc tiếp nhận?

  • Có hay không việc “hợp thức hóa” trình tự sau này?

  • Có dấu hiệu “đi trước một bước” về ý chí xử lý (predetermination) không?

Trong thực hành, đây là nhóm vấn đề có thể dẫn tới:

  • vi phạm thủ tục tố tụng (làm giảm giá trị chứng cứ thu thập sau đó), và nặng hơn,

  • nếu có chứng cứ “làm sai lệch hồ sơ” → có thể chạm đến xâm phạm hoạt động tư pháp (như bạn nêu hướng kiến nghị).

4) Vì sao dễ oan cho 2 cán bộ BIDV?

Với cán bộ ngân hàng, rủi ro oan thường nằm ở chỗ:

  • Họ làm theo quy trình nghiệp vụphân công, hồ sơ dày, nhiều cấp ký;

  • nhưng khi vụ án hóa, cơ quan tố tụng đôi khi “cắt khúc” quy trình, quy trách nhiệm hình sự cho một vài cá nhân ở đoạn thuận tiện nhất.

Nếu BIDV xác nhận đó là “công việc được giao”, không thiệt hại, không yêu cầu bồi thường, thì việc buộc tội theo Điều 356 phải chứng minh rất chặt:

  • hành vi cụ thể nào trái công vụ?

  • họ “lợi dụng” ở chỗ nào (thẩm quyền gì, vượt quyền gì)?

  • động cơ vụ lợi/động cơ khác là gì? chứng cứ ở đâu?

  • thiệt hại là gì và do chính hành vi đó gây ra ra sao?

Nếu không trả lời được, vụ án có nguy cơ chuyển thành “tội danh để răn đe”, không phải “tội danh theo chứng cứ”.

5) Chiến lược tranh tụng hợp lý trong vụ này

Nếu đứng ở góc “bào chữa/điều tra độc lập”, trọng tâm cần dồn vào 4 mũi:

  1. Đánh vào thiệt hại: không giám định được, ngân hàng không xác nhận thiệt hại, mâu thuẫn kết luận định giá.

  2. Đánh vào nhân quả: dù có “giá đất cao/thấp”, phải chứng minh chính hành vi bị cáo gây ra thiệt hại thực tế nào, cho ai.

  3. Đánh vào ý chí chủ quan (mens rea): có chứng cứ vụ lợi, hưởng lợi, thông đồng, lợi ích nhóm không? hay chỉ là nghiệp vụ?

  4. Đánh vào tố tụng: chuỗi tiếp nhận–phân công–thu thập chứng cứ có dấu hiệu “đi tắt/hợp thức hóa” không?

6) Nhận định tổng hợp

Chỉ từ nội dung bạn cung cấp, có ít nhất ba “cờ đỏ” của oan sai:

  • Thiệt hại không đứng vững (thậm chí không giám định được theo NHNN chi nhánh).

  • Định giá/giám định có dấu hiệu bất thường (nếu đúng là “khống/giả” thì cực kỳ nghiêm trọng).

  • Tố tụng mở đầu có nghịch lý thời gian (phân công trước tiếp nhận).

Với ba yếu tố này, một bản án kết tội sẽ rất dễ bị nhìn nhận là không đạt chuẩn chứng minh “beyond reasonable doubt” (dù hệ thống VN không dùng thuật ngữ đó, tinh thần vẫn là “không đủ chắc chắn thì phải tuyên vô tội”).

RELATED ARTICLES

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

Most Popular